Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2000

Buồn nôn có thể là dấu hiệu chỉ điểm bệnh

Căng thẳng, sợ hãi, lo lắng

Những biểu hiện stress sẽ làm cơ thể hoạt động bất thường, dễ dẫn đến những vấn đề về dạ dày và đường ruột từ đó gây buồn nôn, nôn, nặng hơn là đầy hơi, tiêu chảy, táo bón hoặc hội chứng ruột kích thích. Khi bị căng thẳng, sợ hãi não bộ sản sinh ra thêm adrenaline gây ra sự mất cân bằng trong hệ tiêu hóa của bạn.

Làm thế nào để giải quyết tình trạng này? Bạn nên thư giãn, hoặc giải quyết tận gốc những lo lắng, căng thẳng không cần thiết, gây ảnh hưởng đến sức khỏe.

Buồn nôn do các dấu hiệu đường tiêu hóa

Ăn quá nhiều

Ăn quá nhiều đồ ăn, làm hệ tiêu hóa phải làm việc với cường độ tối đa, gây quá tải sẽ dẫn đến buồn nôn. Triệu chứng buồn nôn và nôn xuất hiện nhiều ở những người có hệ tiêu hóa yếu hoặc những người đã trải qua phẫu thuật một bộ phận của hệ tiêu hóa làm giảm khả năng tiêu hóa của hệ thống trong cơ thể.

Để đối phó với chứng buồn nôn này, bạn cần chia nhỏ bữa ăn, không ăn quá nhiều thực phẩm cùng một lúc. Có thể hỏi ý kiến bác sĩ dùng thuốc, hoặc uống trà bạc hà, bổ sung thêm các loại quả chua cũng rất tốt để tăng cường chức năng tiêu hóa của dạ dày.

Ngộ độc thực phẩm

Buồn nôn, đau bụng là triệu chứng đầu tiên của bất cứ vụ ngộ độc thực phẩm nào. Có một số vi khuẩn gây ngộ độc thực phẩm như Campylobacter, Salmonella, Shigella, E. coli, Listeria... thường có các triệu chứng sốt, đau bụng, tiêu chảy, khó chịu, buồn nôn và nôn.

Nếu gặp phải trường hợp bị ngộ độc thực phẩm, bạn cần phải đến gặp bác sĩ ngay lập tức. Vì ngộ độc thực phẩm đi kèm với tiêu chảy dễ gây ra tình trạng mất nước và các chất điện giải. Khi bị ngộ độc cần uống thuốc theo chỉ định của bác sĩ, nghỉ ngơi, tránh ăn các thực phẩm chứa nhiều chất béo, sữa, cà phê, rượu....

Say rượu bia

Trong các cuộc vui, việc quá chén là không thể tránh khỏi. Nhưng say rượu bia cũng ảnh hưởng không nhỏ tới sức khỏe và xuất hiện những triệu chứng như đau đầu, buồn nôn.

Trong trường hợp này, những người uống rượu bia đừng để uống quá nhiều đến mức mất kiểm soát.

Ở mức độ say rượu nhẹ, có thể uống các loại nước bột sắn pha đường. Nếu say rượu đến mức ngộ độc có thể gây nôn rồi đưa bệnh nhân đến cơ sở y tế để được hỗ trợ kịp thời.

Dị ứng hoặc không dung nạp thực phẩm

Khi buồn nôn và nôn, điều đầu tiên chúng ta nên nghĩ đến là do thực phẩm. Có những người bị dị ứng thức ăn hoặc không dung nạp thức ăn cũng gây buồn nôn. Đôi khi, thực phẩm không phải là nguyên nhân chính, nhưng một sự thay đổi trong chế độ ăn kiêng hoặc cách ăn có thể gây buồn nôn và nôn tạm thời.

Trong trường hợp này, người nội trợ nên quản lý chặt chế độ ăn uống và tránh xa các loại thực phẩm có khả năng gây dị ứng.

buon-non-do-di-ung-thuc-pham

Buồn nôn - dấu hiệu chỉ điểm sức khỏe

Mang thai

Khi mang thai, hiện tượng nôn và buồn nôn rất phổ biến, nó được gọi là ốm nghén trong thai kỳ. Buồn nôn hay nôn thường bắt đầu trước khi thai nhi được 9 tuần tuổi và những dấu hiệu này rõ ràng hơn từ 12 đến 14 tuần của thai kỳ. Nó có thể xảy ra bất cứ lúc nào vào ban ngày hay đêm, thậm chí nhiều phụ nữ cảm thấy buồn nôn suốt hàng tháng. Mặc dù nguyên nhân của buồn nôn khi mang thai chưa tìm được nguyên nhân chính xác, nhưng có một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng buồn nôn và nôn trong thai kỳ có liên quan đến những thay đổi nội tiết tố. Thiếu hụt vitamin B6 cũng có thể gây ra buồn nôn ở phụ nữ mang thai.

Để giảm chứng buồn nôn thai kỳ, thai phụ nên tránh các loại thức ăn và mùi vị gây khó chịu, buồn nôn. Ăn từng phần nhỏ để dạ dày của bạn không bao giờ trống rỗng. Có thể tăng cường ăn uống chất lỏng, dễ tiêu hoặc sử dụng đồ uống lạnh vào giữa các bữa ăn cũng cho tác dụng tốt.

buon-non-do-thuoc

Buồn nôn do thuốc

Các thuốc giảm đau, chẳng hạn như codeine, hydrocodone, morphine, hoặc oxycodone, có thể gây ra buồn nôn hoặc nôn. Hay những loại thuốc như sắt, thuốc bổ sung kali, các thuốc chống viêm không steroid, và thậm chí cả aspirin đều có thể gây buồn nôn do kích thích dạ dày của bạn hoặc làm chậm chuyển động ruột, gây đầy hơi.

Để giảm triệu chứng này, bạn có thể dùng thuốc trong bữa ăn hoặc cùng một lượng nhỏ thức ăn. Nếu không có thể nhờ bác sĩ tư vấn một số loại thuốc uống cùng để giảm triệu chứng buồn nôn.

buon-non-do-dau-nua-dau

Đau nửa đầu

Khi bị đau nửa đầu, 80% bệnh nhân bị nôn và buồn nôn, người bệnh thường rất nhạy cảm với âm thanh, ánh sáng. Họ thường đau từng cơn, co thắt nửa bên đầu hoặc quanh sọ não. Não bị tăng áp lực gây ra buồn nôn và ói mửa.

Đau nửa đầu là căn bệnh mạn tính không có thuốc điều trị đặc hiệu. Khi có dấu hiệu bệnh này, người bệnh có thể vận động ngoài trời nhẹ nhàng, hít thở sâu, nới lỏng quần áo, không nên uống quá nhiều nước một lúc, tất cả đều có thể giảm được chứng buồn nôn và nôn.

Ngoài ra một số bệnh lý như: Viêm dạ dày, ruột do virus; Viêm túi mật hay tuyến tụy; Do hóa trị và ung thư,… cũng có thể khiến bệnh nhân buồn nôn và nôn do đó, khi thấy có hiện tượng buồn nôn kéo dài và kèm theo các triệu chứng bất thường thì cần đến cơ sở y tế để được kiểm tra và tư vấn cụ thể.

Bạch Dương

(Theo thehealthsite)

Chế độ ăn nhiều chất béo khi mang thai làm tăng nguy cơ ung thư vú

Các nhà nghiên cứu đã cho những chú chuột mang thai áp dụng chế độ ăn nhiều chất béo từ dầu ngô thông dụng, dẫn tới những thay đổi di truyền làm tăng nguy cơ ung thư vú ở 3 thế hệ chuột con cháu.

Chế độ ăn nhiều chất béo khi mang thai làm tăng nguy cơ ung thư vú

Được đăng trên tạp chí Breast Cancer Research ngày 3/7, nghiên cứu này đã chỉ ra một số thay đổi di truyền ở thế hệ chuột thứ nhất và thứ ba. Thông qua sàng lọc di truyền, các nhà nghiên cứu phát hiện một số gen liên quan với tăng nguy cơ ung thư vú, kháng điều trị ung thư, tiên lượng ung thư kém và giảm khả năng miễn dịch chống ung thư.

Lượng chất béo mà những con chuột được ăn tương đương với lượng chất béo mà một người tiêu thụ mỗi ngày. Nhóm chuột có chế độ ăn nhiều chất béo và nhóm chứng ăn lượng calo như nhau và có cân nặng bằng nhau. Nghiên cứu này cho thấy rằng, chế độ ăn nhiều chất béo trước và trong khi mang thai làm tăng nguy cơ ung thư vú ở các thế hệ sau nhưng không gây ra những thay đổi ở các tế bào mầm.

BS P.Liên

(theo Univadis/UPI)

Người mắc bệnh gan do virus có dễ bị ung thư gan?

Theo thống kê của Bộ Y tế, bệnh nhân mắc viêm gan siêu vi B chiếm 8-25% dân số, ước tính đến năm 2020 sẽ có 8 triệu người Việt nhiễm virus viêm gan b mạn tính. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), bệnh viêm gan do virus là nhân tố thứ 7 gây tử vong trên toàn cầu. Hiện nay có từ 6 đến 10 triệu người mắc bệnh này, 1,4 triệu ca tử vong mỗi năm, trong đó nhiều nhất là viêm gan virus C (48%), B (47%), còn lại là viêm gan A và E. Nhóm người tiêm chích ma túy có nguy cơ lây nhiễm cao nhất vì hiện trạng dùng chung bơm kim tiêm, ước tính trong số 16 triệu người tiêm chích ma túy có khoảng gần 10 triệu trường hợp nhiễm virus viêm gan C.

Báo động hơn 300 triệu người mang virut viêm gan

Gần 325 triệu người trên thế giới đang mang trong mình virus viêm gan B hoặc virus viêm gan C. Tuy nhiên rất nhiều người trong số đó không hề biết mình có mầm bệnh trong người. Đây là báo động mới được Tổ chức Y tế thế giới (WHO) vừa đưa ra. Theo đó, đa số những người nhiễm virut viêm gan không có điều kiện xét nghiệm hay chẩn đoán sớm, dễ dẫn đến xơ gan, ung thư gan. WHO khuyến cáo, thế giới phải có giải pháp cấp bách do đây là thách thức lớn đe dọa sức khỏe cộng đồng. Thống kê chỉ riêng năm 2015, thế giới ghi nhận hơn 1,3 triệu người tử vong do virut viêm gan, tương đương số người chết do bệnh lao và HIV/AIDS. Tính trung bình từ năm 2000 đến nay, tỷ lệ này tăng khoảng 22%.

Diễn biến âm thầm

Theo các bác sĩ truyền nhiễm, hiện nay có 5 loại vi rút viêm gan được ghi nhận, đó là A,B,C,D và E, trong đó vi rút viêm gan B, C và D thường gây viêm gan mạn tính, tiến triển tới xơ gan, ung thư gan và tử vong.

Trong 5 loại viêm gan nói trên, lây qua đường tiêu hoá là viêm gan A và E. Số còn lại thường lây qua đường máu, từ mẹ sang con và đường quan hệ tình dục.

Những người có nguy cơ cao nhiễm viêm gan vi rút là người trong gia đình hoặc sống cùng người nhiễm; người có tiền sử tiêm chích ma túy, quan hệ tình dục không an toàn, người chạy thận nhân tạo chu kỳ; nhân viên y tế trực tiếp chăm sóc người bệnh… Theo các chuyên gia y tế, nếu bị viêm gan virus B và C cấp, bệnh nhân sẽ thấy mệt mỏi, chán ăn và vàng mắt, đôi khi có thể sốt nhẹ. Đối với các trường hợp mạn tính, hầu như bệnh nhân không có triệu chứng gì. Bệnh nhân có thể đau tức hạ sườn phải, nước tiểu có màu vàng sẫm. Tuy nhiên, nhiều trường hợp viêm gan mạn tính không có biểu hiện lâm sàng rõ rệt, thường khi bệnh được phát hiện thì đã muộn. Chính vì bệnh viêm gan diễn biến âm thầm, nhưng nguy hiểm và điều trị tốn kém, dễ dẫn đến xơ gan, ung thư gan - gây tử vong sớm… nên nó còn được gọi là “kẻ giết người thầm lặng”.

Dẫn đến xơ gan và ung thư gan

Các chuyên gia y tế nhận định: bệnh viêm gan B diễn biến âm thầm, không có triệu chứng rõ rệt. 90% trường hợp mắc viêm gan B không có triệu chứng lâm sàng cho đến khi tiến triển thành xơ gan, ung thư gan. Tương tự, có đến 90% tỉ lệ người mắc viêm gan C cũng không có biểu hiện lâm sàng, chỉ có tế bào gan bị tổn thương âm thầm, trong đó có hơn 50% trường hợp sẽ chuyển thành xơ gan và ung thư.

Khoảng 10-20% bệnh nhân xơ gan có thể biến thành ung thư gan. Bệnh nhân bị nhiễm virut viêm gan B có xác suất ung thư gan cao gấp 200 lần người bình thường. Xơ gan là giai đoạn cuối của bệnh lý viêm gan mạn tính được đặc trưng bởi sự thay thế mô gan bằng mô xơ, sẹo và sự thành lập các nốt tân sinh dẫn đến mất chức năng gan.

Bệnh cảnh viêm gan vi rút rất đa dạng, không tương xứng với độ nặng của bệnh, gây khó khăn cho công tác khám và điều trị. Bệnh nhân thường chỉ phát hiện bệnh khi đã muộn, bị xơ gan, ung thư gan; khi đó chi phí điều trị đắt đỏ, tiên lượng xấu. Ngược lại có trường hợp phát hiện thì cũng chủ quan, không thường xuyên khám, theo dõi, hậu quả bệnh tiến triển nặng nề” – các bác sĩ cảnh báo.

Cách phòng bệnh và giảm nguy cơ

Để phòng tránh bệnh lý viêm gan, xơ gan hoặc ung thư gan, PGS.TS. Trịnh Thị Ngọc khuyến cáo: Người bị bệnh gan thường có biểu hiện không rõ ràng, khiến người bệnh dễ bỏ qua, nếu không được chẩn đoán và điều trị sớm bệnh dễ tiến triển thành xơ gan, thậm chí là ung thư gan. Vì vậy, người bệnh viêm gan cần có chế độ ăn phù hợp. Cụ thể, giai đoạn viêm gan cấp tính bệnh nhân nên ăn nhẹ, uống nhẹ, nên ăn làm nhiều bữa và sử dụng các loại thức ăn dễ tiêu. Cần lưu ý, các biểu hiện khó chịu, mệt mỏi thường dễ chịu hơn vào buổi sáng, vì vậy bệnh nhân nên ăn nhiều hơn. Tránh ăn các thức ăn nhiều gia vị, dầu, mỡ. Cần ăn nhiều các loại protein được nấu nhừ, bên cạnh đó cũng cần ăn các chất có xơ như cam, cà rốt, chuối, gạo lứt, đậu đỏ, các loại rau xanh...

Trong giai đoạn này bệnh nhân cũng nên uống nhiều nước, đặc biệt nước cam, nước chanh vừa tăng lượng sinh tố, vừa tăng lượng nước của cơ thể. Tuyệt đối không được sử dụng rượu bia trong giai đoạn này dưới mọi hình thức vì chúng là các chất rất có hại cho tế bào gan. Trong trường hợp viêm gan cấp tính mức độ nặng, bệnh nhân cần được điều trị tại bệnh viện để có được chế độ điều trị và chăm sóc hợp lý.

Đối với người viêm gan mạn tính cần hết sức đa dạng trong các nhóm như rau, củ, quả, ngũ cốc, sữa và chế phẩm từ sữa, thịt cá hay trứng. Thức ăn cần cung cấp đủ năng lượng, cho bệnh nhân, phù hợp với trọng lượng chiều cao và hoạt động của cơ thể. Cần cung cấp đủ lượng protein cần thiết để tấn công bệnh tật, tái tạo gan và không thất thoát các chất cơ. Các thức ăn cần có nhiều vitamin A (như gan gà, gan lợn...) và vitamin C (cam, quýt, rau sống...). Tuyệt đối bỏ rượu để bảo vệ tế bào gan và giúp gan chóng bình phục, giảm thiếu tối đa các chất quá béo, quá ngọt.

Tiêm phòng vắc xin là biện pháp tốt nhất đề phòng lây nhiễm viêm gan B.

Để chẩn đoán và điều trị sớm bệnh người dân nên kiểm tra định kỳ 3-6 tháng/ lần. Những người có yếu tố nguy cơ cao nên đi kiểm tra như người sống trong gia đình có người bị viêm gan virus B, C hay ung thư gan cần chú ý phòng lây nhiễm. Nếu xét nghiệm HBsAg âm tính cần xét nghiệm anti HBs, nếu kết quả âm tính cần tiêm phòng vắc-xin viêm gan B. Hiện nay chưa có vắc-xin cho viêm gan C nên người có anti HCV dương tính cần xét nghiệm xem virut có phát triển không để có hướng điều trị kịp thời. Bệnh nhân mệt mỏi, đau tức hạ sườn phải, tiểu vàng,… thì nên kiểm tra chức năng gan gồm HBsAg, Anti HCV, để có hướng xử lý kịp thời. Người mang virut viêm gan B, C không nên uống rượu, bia vì rượu, bia ở người bị viêm gan B, C sẽ làm cho bệnh nặng thêm.

Đức Hoàng


Một số liệu pháp tự nhiên thay thế thuốc trị động kinh

Tỷ lệ này ở Việt Nam khoảng 2%, trong đó gần 60% số bệnh nhân là trẻ em. Bên cạnh các biện pháp điều trị truyền thống, các nhà nghiên cứu tại Mỹ còn đưa ra một số liệu pháp tự nhiên hỗ trợ cho những người không đáp ứng hoặc lo ngại tác dụng phụ của thuốc chữa bệnh.

Trong hầu hết các trường hợp động kinh, nguyên nhân vẫn chưa được biết rõ nhưng một số người coi bệnh động kinh như là kết quả của chấn thương não, đột quỵ (ở người trên 65 tuổi), u não, tiền sử gia đình và rối loạn sử dụng chất. Đột biến sinh học có liên quan đến một tỷ lệ nhỏ của bệnh này. Bên cạnh đó, các liên kết giữa chứng tự kỷ và chứng động kinh cũng đang được điều tra vì 1/3 trẻ em bị chứng tự kỷ cũng có thể bị co giật. Tuy nhiên, Hiệp hội Động kinh Mỹ cho rằng vẫn còn 60% trường hợp động kinh chưa biết được nguyên nhân.

Một số liệu pháp tự nhiên chữa động kinh

Chế độ ăn: là một trong những hình thức chữa bệnh động kinh sớm nhất và được sử dụng với các biến thể hiện đại để giúp trẻ em và người lớn dễ dàng thực hiện. Chế độ ăn bao gồm nhiều chất béo, ít carbohydrate đã có một số thành công trong việc giảm cơn co giật do động kinh ở trẻ em không thể chịu đựng hoặc không được hưởng lợi từ các thuốc điều trị động kinh. Chế độ ăn kiêng thường được áp dụng cho trẻ em bị động kinh không đáp ứng với các thuốc điều trị động kinh, đã làm giảm cơn động kinh xuống một nửa và loại bỏ cơn động kinh hoàn toàn trong 10-15 phần trăm những người được nghiên cứu. Chế độ ăn giàu chất đạm, ít carbohydrate và có tác dụng tích cực đối với người bệnh. Tuy nhiên, biện pháp này cũng đòi hỏi sự giám sát rộng rãi, chặt chẽ của người có chuyên môn nếu được áp dụng cho người bệnh động kinh.

Các liệu pháp thảo dược: Các loại thảo mộc được sử dụng cho nhiều loại bệnh khác nhau, có thể lên đến 80% dân số thế giới. Hai nghiên cứu về các hợp chất thảo dược của Trung Quốc cho thấy có một số loại thảo mộc, chẳng hạn như hoa cúc, lạc tiên, cây nữ lang có thể làm cho AED hiệu quả hơn, giúp giảm tình trạng động kinh ở người lớn và trẻ em. Tuy nhiên, một số thảo mộc khác như cây bạch quả, nhân sâm và các loại thảo mộc kích thích có chứa caffein và chất ma hoàng có thể làm cho cơn co giật tệ hơn. Nếu sử dụng bất kỳ thảo mộc nào, người bệnh hay người nhà cần nghiên cứu và mua từ các nguồn có uy tín.

Vitamin: Thiếu vitamin B6 đã được biết là gây ra cơn co giật. Do vậy, việc bổ sung thêm vitamin này được cho là phù hợp với một số trường hợp động kinh. Các vitamin khác như vitamin E, magie và một số chất bổ sung dinh dưỡng khác đã được xác định có triển vọng trong điều trị chứng động kinh. Những người dùng AED thường được khuyên nên bổ sung vitamin D để giữ cho hệ thống xương cân bằng. Ngoài ra, các bác sĩ đã tìm ra cách điều trị cơn động kinh với mangan, taurine và thiamine hay vitamin B1 có thể giúp cải thiện khả năng suy nghĩ ở người bị động kinh.

Một số liệu pháp tự nhiên thay thế thuốc trị động kinhLiệu pháp phản hồi sinh học giúp người động kinh ít xuất hiện cơn hơn.

Liệu pháp phản hồi sinh học: Phản hồi sinh học là một kỹ thuật giúp theo dõi và kiểm soát cách cơ thể phản ứng với các kích thích bên ngoài. Trong thời gian đào tạo phản hồi sinh học, nhà trị liệu sẽ gắn các cảm biến lên cơ thể. Các loại cảm biến và vị trí gắn thay đổi tùy theo các phản hồi của cơ thể đang được đo. Cảm biến có thể phát hiện những thay đổi trong cơ thể, từ việc thay đổi nhiệt độ da, nhịp tim, mức độ căng cơ... và cả mô hình não sóng. Khi phát hiện những thay đổi này, các máy đo sẽ ngay lập tức “phản hồi bằng đèn nháy, tiếng bíp tại máy hoặc một mô hình đồ thị... để phát hiện các hoạt động của cơ thể xảy ra một cách vô thức như các dấu hiệu nhận biết động kinh. Các nhà nghiên cứu tại Mỹ trong 10 nghiên cứu khác nhau cho thấy, 74% người bị động kinh không thể điều trị bằng thuốc đã được áp dụng liệu pháp này cho thấy ít xuất hiện cơn động kinh hơn.

Thư giãn: Khoa học đã chứng minh sự căng thẳng và lo lắng có liên quan đến động kinh. Chính vì vậy, một liệu pháp tự nhiên mà người bệnh động kinh được khuyến cáo thực hiện là thư giãn, giảm căng thẳng. Có nhiều cách thực hành khác nhau mà người bệnh có thể tự làm để giúp họ cảm thấy yên tĩnh hơn, thư giãn cơ bắp, ngủ ngon hơn và tận hưởng tâm trạng tốt hơn. Theo Hiệp hội Động kinh Mỹ, các trường hợp trẻ em bị động kinh khi áp dụng phương pháp này đã xảy ra ít cơn hơn, chất lượng cuộc sống tốt hơn. Cùng với các biện pháp thư giãn, người bệnh có thể sử dụng kết hợp với một số hương liệu như hoa oải hương, hoa cúc, hoa nhài... để ngăn ngừa động kinh nhưng cần tránh tinh dầu bạch đàn, húng quế, rau thì là... vì chúng có tác dụng ngược với người bệnh. Nếu áp dụng phương pháp thiền thì người bệnh nên thận trọng do thiền có thể làm thay đổi tín hiệu điện trong não.

Giáo dục và tránh các yếu tố nguy cơ gây cơn động kinh: Nhiều người bị động kinh thấy rằng cơn co giật của họ phát triển khi có các yếu tố kích thích nên sau khi học về chứng động kinh, cách đối phó và cách dùng thuốc đã giúp cải thiện chất lượng cuộc sống của họ. Chẳng hạn đối với người bị động kinh nhạy cảm với ánh sáng, họ được học cách tránh sử dụng các trò chơi điện tử trong phòng tối hay che một bên mắt khi tiếp xúc với đèn nhấp nháy.

Lời khuyên

Sử dụng thuốc chống động kinh có hiệu quả kiểm soát cơn động kinh với hầu hết người bệnh nhưng một số trường hợp đặc biệt thuốc không có hiệu quả hay bản thân người bệnh lo ngại về sự an toàn của thuốc khi sử dụng lâu dài nên đã tìm đến các liệu pháp hỗ trợ, thay thế. Tuy nhiên, để thực hiện những liệu pháp này vẫn cần sử dụng cùng với các thuốc AED và được theo dõi bởi bác sĩ vật lý trị liệu được đào tạo chuyên khoa, bài bản để có thể kiểm soát bất kỳ tình huống không an toàn nào có thể xảy ra.

Lê Mỹ Giang

((Theo MNT, 6/2017))

Chuyên gia “mách” bạn cách điều trị trĩ ngoại hiệu quả

Chữa bệnh trĩ ngoại bằng cách giảm thiểu, loại trừ các nguyên nhân phát sinh bệnh

Thay đổi thói quen trong ăn uống: cần uống nhiều nước trong ngày, ăn nhiều thực phẩm giàu chất xơ có trong trái cây và rau quả, tránh ăn đồ cay, nóng như ớt, cà ri, tiêu, không nên uống các loại nước có chứa các chất kích thích như cà phê, rượu, bia, trà,…

Bạn nên tập thể dục nhẹ nhàng hàng ngày ( ảnh minh họa)

Thay đổi thói quen trong sinh hoạt: tập thể dục hàng ngày, vận động các môn thể thao nhẹ nhàng, tránh ngồi, đứng quá lâu một chỗ hay ngồi xổm. Không nên gồng hay khiêng vác các vật nặng sẽ làm căng giãn các mạch máu ở búi trĩ.

Vệ sinh tại chỗ: nên rửa hậu môn sau khi đi vệ sinh, tránh gây trầy xướt như hạn chế dùng giấy vệ sinh sẽ gây cọ xát thành hậu môn. Bệnh nhân mắc bệnh nên ngâm với nước ấm có pha muối thường xuyên sẽ làm giảm bớt được các cơn đau, tránh viêm sưng và sát trùng.

Nếu như mắc các bệnh mạn tính như viêm phế quản, viêm đại tràng, táo bón, kiết lỵ,… cần phải điều trị ngay nhằm loại trừ nguyên nhân ban đầu để có thể chữa bệnh trị ngoại nhanh chóng, dễ dàng.

Chữa bệnh trĩ ngoại bằng cách dùng thuốc ( phương pháp nội khoa)

Tùy mức độ nghiêm trọng của bệnh như chảy máu nhiều, viêm sưng hay đau rát ở búi trĩ có thể dùng thuốc uống hay loại thuốc bôi ngoài để chữa bệnh trĩ ngoại:

Các loại thuốc uống để chữa trị bệnh trĩ ngoại có dạng viên nén hay viên nang. Chúng có tác dụng thẩm thấu vào bên trong, tác động lên thành tĩnh mạch, làm cho chúng chắc lại, tránh co thắt.Ngoài ra còn có tác dụng giảm sưng đau, phù nề,trong trường hợp búi trĩ chảy máu sẽ giúp cầm được máu, ngăn chặn viêm nhiễm.

Dùng loại thuốc bôi ngoài như thuốc đặt hay mỡ bôi trĩ được dùng trên vùng trĩ bị tổn thương, có tác dụng giảm đau đớn, ngứa rát, sát trùng, ngăn ngừa viêm nhiễm. Tuy nhiên chúng chỉ làm giảm bớt các triệu chứng chứ bệnh trĩ ngoại vẫn chưa khỏi hẳn.

Thuốc bôi chỉ giảm bớt các triệu chứng chứ bệnh trĩ ngoại chưa khỏi hẳn ( ảnh minh họa)

Tuy nhiên cần đến bác sĩ hay các trung tâm điều trị để có sự hướng dẫn điều trị các loại bệnh mạn tính hay các triệu chứng kèm theo như táo bón, đường ruột, thuốc kháng sinh, giảm đau.

Chữa bệnh trĩ ngoại bằng cách loại bỏ trĩ ( phương pháp ngoại khoa)

Cách chữa bệnh trĩ ngoại theo phương pháp phẫu thuật này chỉ áp dụng khi bệnh trĩ đã ở giai đoạn cuối, trĩ đã bị viêm loét, nhiễm trùng cấp tính và có nguy cơ gây cho bệnh nhân nhiễm trùng máu trầm trọng.Phẫu thuật cắt trĩ có thể cắt bỏ từng búi trĩ, giữ lại phần lớp cơ bên trong rồi khâu lại vết thương đóng hay để hở. Có khi phần trĩ ngoại được để lại, dần dần sẽ teo lại hay biến mất sau khi uống thuốc.

Tuy nhiên việc phẩu thuật cắt bỏ này nếu không cẩn thận sẽ gây biến chứng nghiêm trọng cho người bệnh. Do đó các bác sĩ luôn lựa chọn cho bệnh nhân uống thuốc chữa bệnh trĩ ngoại là tốt nhất.

Thuốc tiêu trĩ Safinar kết hợp một cách khoa học các vị thuốc Hòe giác, Địa Du, Phòng Phong, Chỉ Xác, Hoàng Cầm và Đương Quy về hàm lượng các thành phần cũng như quy trình bào chế giúp không chỉ giữ nguyên tác dụng của từng vị thuốc mà còn tăng cường tác dụng lẫn nhau. Vì vậy, thuốc tiêu trĩ Safinar nhanh chóng trị hết bệnh, trị dứt điểm, không để bệnh tiến triển nặng, ngăn tái phát bệnh hiệu quả lại rất an toàn, không gây tác dụng phụ cho người dùng.

Sử dụng thuốc tiêu trĩ Safinar sớm ngay khi có các triệu chứng để bệnh được trị dứt điểm, nhanh chóng, không bị tái phát, người bệnh vừa nhanh chóng thoát khỏi sự khó chịu, mệt mỏi vừa không còn lo sợ nguy hiểm tới tính mạng.

Thuốc tiêu trĩ Safinar được sản xuất bởi công ty CP Dược Trung Ương Mediplantex theo tiêu chuẩn GMP-WHO và được Bộ Y tế cấp phép lưu hành. Sản phẩm có bán tại các nhà thuốc trên toàn quốc.

ĐT tư vấn: 0243.990.6195 - 0243.668.6226 Website: www.tribenhtri.vn

Số giấy tiếp nhận: 0707/10/QLD - TT

Đọc kỹ hướng dẫn sử dụng trước khi dùng

Các nhà khoa học đã tìm ra chìa khóa để “bật công tắc” kích hoạt hàng rào bảo vệ cơ thể, ngăn ngừa ung thư

Tự nhiên thông minh đã trang bị sẵn cho mỗi tế bào trong cơ thể một hệ thống hàng rào phòng thủ chống lại các độc tố và gốc tự do, đó là hệ thống các enzyme thải độc và các chất chống oxi hóa. Các enzyme thải độc có vai trò phá hủy độc tố khi chúng xâm nhập vào cơ thể và đào thải ra ngoài, các chất chống oxi hóa lại có nhiệm vụ trung hòa các gốc tự do để bảo vệ tế bào. Tuy nhiên, hệ thống bảo vệ này có nguy cơ gặp quá tải trước sự bủa vây của độc tố từ môi trường và yếu đi do tuổi tác khiến cho các độc tố tích tụ trong cơ thể và gây ra các loại bệnh tật khác nhau. Tin vui là, các nhà khoa học đã tìm ra chìa khóa giúp kích hoạt hệ thống này làm việc hiệu quả hơn.

Cuộc cách mạng về gen dinh dưỡng và phòng ngừa ung thư

Kể từ khi hoàn thành Dự án Hệ gen Con người vào năm 2003, đã có những tiến bộ đáng kể trong việc hiểu được sự đóng góp của bộ gen con người đối với sức khoẻ và bệnh tật. Cuộc cách mạng về gen di truyền đã cung cấp những hiểu biết sâu sắc về một số vấn đề sức khoẻ, bao gồm vai trò của chế độ ăn uống trong phòng chống ung thư. Một ngành khoa học mới đã ra đời- Nutrigenomics (gen dinh dưỡng), nghiên cứu về cách dinh dưỡng tác động lên bộ gen của chúng ta và cuối cùng làm thay đổi hoạt động của tế bào đã tạo ra những bước đột phá mới trong lĩnh vực ngăn ngừa ung thư.

Bộ gen được ví như là trung tâm điều khiển các hoạt động sống của tế bào, nó nhận thông tin từ môi trường bên ngoài và điều hòa hoạt động của tế bào để thích nghi với môi trường. Trong số các gen này, có những gen đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ tế bào trước sự tấn công của độc tố và gốc tự do. Những gen này quy định việc tổng hợp glutathione- chất chống oxi hóa mạnh nhất của cơ thể và hoạt tính của các enzyme thải độc- hai yếu tố quan trọng của hàng rào bảo vệ cơ thể.

Dinh dưỡng có thể tác động như thế nào đến các gen này? Các nhà nghiên cứu về Nutrigenomics đã tìm thấy một số hoạt chất tự nhiên từ thực phẩm có thể “bật công tắc” kích hoạt làm tăng biểu hiện của những gen bảo vệ tế bào này. Trong số các hoạt chất này, sulforaphane được cho là hoạt chất mạnh mẽ nhất được tìm thấy. Với kích thước phân tử nhỏ bé, sulforaphane có khả năng đi vào bên trong tế bào và kích hoạt hơn 200 gen bảo vệ tế bào. Theo nghiên cứu của Khoa Dược, đại học Western Sydney, Úc, bổ sung sulforphane giúp tăng sản sinh glutathione lên 240% và tăng hoạt tính của các enzyme thải độc, đặc biệt là enzyme GSTs lên 8,1 lần. Nhờ cơ chế tác dụng đến từng tế bào trong cơ thể ở cấp độ phân tử, sulforaphane bảo vệ cơ thể mạnh mẽ hơn gấp nhiều lần các chất chống oxi hóa bổ sung từ bên ngoài.

Sulforaphane được chiết xuất với hàm lượng cao nhất từ hạt của bông cải xanh, khám phá trên đã khiến cho lượng tiêu thụ bông cải xanh tăng gấp đôi trên toàn nước Mỹ và được mệnh danh là siêu thực phẩm của thế kỉ XIX. Bằng cách khai thác tiềm năng của chính cơ thể, sulforaphane đã mở ra một hướng đi mới trong việc phòng ngừa ung thư.

Cứu 2 ca u gan vỡ bằng phương pháp điện quang can thiệp

Ngay lập tức bệnh nhân được làm các xét nghiệm cần thiết như siêu âm, chụp CTscan ổ bụng, được chẩn đoán khối u gan (chưa rõ bản chất) đã vỡ, gây xuất huyết ào ạt vào ổ bụng.

Cứu 2 ca u gan vỡ bằng phương pháp điện quang can thiệpHiện bệnh nhân D.X. đã hồi phục sau khi được phẫu thuật.

Xác định tình trạng khẩn cấp và nguy kịch tới tính mạng của bệnh nhân, Khoa Cấp cứu đã nhanh chóng hội chẩn với Khoa Chẩn đoán hình ảnh, Gây mê - Hồi sức và xin ý kiến trực lãnh đạo. Trong vòng chưa đầy 30 phút sau nhập viện từng ca, bệnh nhân được đưa vào Phòng can thiệp mạch (Phòng DSA) để tiến hành nút mạch cầm máu bằng kỹ thuật TACE (TransArteral ChemoEmbolization).

Tính đến 9/7, 2 bệnh nhân đã qua cơn nguy kịch, huyết áp ổn định, có thể xuất viện trong vài ngày tới. Trước đây, các tình trạng bệnh này bắt buộc phải phẫu thuật để cầm máu với tỷ lệ thất bại và tử vong rất cao.

Hệ thống DSA tại BVĐK Trung ương Quảng Nam được đưa vào sử dụng từ năm 2012. Ngoài việc được sử dụng thường quy cho việc chẩn đoán và điều trị các bệnh lý tim mạch, Bệnh viện đã triển khai nhiều ứng dụng khác trong lĩnh vực điện quang can thiệp như chấn thương nặng gãy xương hàm mặt, khung chậu phức tạp không thể phẫu thuật cầm máu; các bệnh nhân ung thư gan, ung thư tử cung; các bệnh lý sỏi mật, sỏi thận gây nhiễm trùng nặng,... đạt được những hiệu quả khả quan.

Tin, ảnh: A.V

Người cao tuổi mắc bệnh khớp nên tập luyện thế nào?

Chứng bệnh khớp thường gặp khi có tuổi Thực ra đó là một loại bệnh mạn tính, thường phát sinh sau tuổi trung niên, phần nhiều ở các khớp cổ,...